PHẢN ỨNG BẤT LỢI CỦA THUỐC (Adverse drug reaction- ADR)

0
218
cảnh giác dược

PHẢN ỨNG BẤT LỢI CỦA THUỐC (Adverse drug reaction- ADR)

cảnh giác dược

Tổ chức Y tế Thế giới (2002) đã đưa ra định nghĩa về phản ứng bất lợi của thuốc (ADR) như sau:

Phản ứng bất lợi của thuốc là một phản ứng độc hại, không được định trước và xuất hiện ở liều thường dừng chõ người’ để phòng bệnh, chẩn đoán hoặc chữa bệnh hoặc làm thay đổi một chức năng sinh lý”.

Định nghĩa này không bao gồm những phản ứng do dùng sai thuốc, dùng sai liều, dùng liều cao có chủ định hoặc vô tình. Trong định nghĩa này, yếu tô” đáp ứng cá thể là rất quan trọng.

Có nhiều trường hợp tai biến phát sinh trong quá trình điều trị mà nguyên nhân chưa được xác định. Nguyên nhân trong những trường hợp này không chỉ do thuốc gây ra mà có thể do các yếu tố khác như sự tiến triển nặng thêm của bệnh hoặc do một bệnh khác phát sinh. Những trường hợp như vậy gọi là biến cố bất lợi của thuốc (Adverse drug experience/ Adverse drug event- ADE).

  • Phân loại ADR
  • Phân loại theo tần suất gặp
  • Thường gặp ADR > 1/100
  • ít gặp 1/100 < ADR < 1/100
  • Hiếm gặp ADR < 1/1000

Phân loại theo mức độ nguy hiểm của ADR

  • Nhẹ: không cần điều trị, không cần giải độc và thời gian nằm viện không kéo dài.
  • Trung bình: cần có thay đổi trong điều trị, cần điều trị đặc hiệu hoặc kéo dài thời gian nằm viện ít nhất 1 ngày.
  • Nặng: có thể đe dọa tính mạng, gây bệnh tật lâu dài hoặc cần chăm sóc

tích cực.

  • Tử vong: trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến tử vong của bệnh nhân.
  • Phân loại theo typ
  • Typ A

Các ADR typ A có các đặc điểm sau:

  • Tiên lượng được (dự đoán trước được).
  • Thường phụ thuộc liều dùng (do đó các ADR typ A thường gặp đối vối các thuốc có phạm vi điều trị hẹp).
  • Là tác dụng dược lý quá mức hoặc là một biểu hiện của tác dụng dược lý ở một vị trí khác.

Sau đây là một số ví dụ cho các ADR typ A:

  • Là tác dụng điều trị nhưng cường độ vượt quá mức cần thiết như: chảy máu khi dùng thuốc chống đông máu, hạ đường huyết khi dùng thuốc điều trị đái tháo đường, tụt huyết áp khi dùng thuốc điều trị tăng huyết áp…
  • Là tác dụng điều trị nhưng ở vị trí hoặc cơ quan khác hoặc do tính chất không chọn lọc trên các kháng thụ thể, ví dụ: nhản ứner neroại thán với các thuốc kháng thụ thể dopaminergic, tác dụng gây ung thư chậm của các thuốc gây độc tế bào và estrogen hoặc tác dụng trên hệ tiêu hóa của các chất ức chế cyclooxygenase không chọn lọc (các NSAID).
  • Là tác dụng dược lý khác của thuốc nhưng không phải là tác dụng điều trị, ví dụ: các thuốc chống trầm cảm 3 vòng thể hiện cả tác dụng kháng thụ thể muscarinic, không có vai trò trong điều trị chống trầm cảm thường gây khô miệng, giảm thị lực… hoặc tác dụng kháng androgen của cimetidin.
  • Typ B

Các ADR typ B có các đặc điểm sau:

  • Thường không tiên lượng được.
  • Không liên quan đến các đặc tính dược lý đã biết của thuốc.
  • Thường có liên quan tới các yếu tố di truyền hoặc miễn dịch, u bướu hoặc các yếu tô” gây quái thai.

Dị ứng thuốc là một ví dụ điển hình cho ADR typ B vì không tiên lượng thông qua cơ chế miễn dịch dị ứng, không liên quan đến các tác dụng dược lý của thuốc. Biểu hiện lâm sàng của dị ứng thuốc rất đa dạng, các cơ quan bị tổn thương có thể có thể là da, gan, thận, đường tiêu hóa hoặc toàn thân; mức độ nghiêm trọng từ nhẹ (ban da, ngứa…) đến rất nặng, thậm chí gây tử vong cho bệnh nhân như sốc phản vệ, hội chứng Lyell, Stevens- Johnson… Tuy không tiên lượng được nhưng có thể hạn chế sự xuất hiện của dị ứng thuốc nếu các nhân viên y tế có biện pháp theo dõi chặt chẽ và phát hiện sớm.

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY