Điện phân, cân bằng dịch thể, dinh dưỡng, hóa trị liệu, phẫu thuật nội tiết và X quang. Một số phẫu thuật khác

0
568
x quang
Điện phân, cân bằng dịch thể, dinh dưỡng, hóa trị liệu, phẫu thuật nội tiết và X quang. Một số phẫu thuật khác
Rate this post

Điện phân, cân bằng dịch thể, dinh dưỡng, hóa trị liệu, phẫu thuật nội tiết và X quang

x quang

Cho đến tận những năm 1850, nhờ kết quả các công trình nghiên cứu của Claude Bernard, vai trò của máu và các dịch thể trong cơ thể mới được hiểu biết một cách đầy đủ. Ông là người đầu tiên sử dụng từ “milieu” để chỉ tình trạng nội môi của cơ thể và chỉ ra được những tiêu chuẩn về sinh lý học cho phép các cơ quan có thể tồn tại một cách độc lập.
Trong thế kỷ XX, Walter Cannon là người đã đưa ra luận thuyết về ổn định nội mô và Henderson là người đã đưa ra lí thuyết về cơ chế cân bằng acid- base trong cơ thể.
Năm 1952 giáo sư ngoại khoa Moseley đã xuất bản cuốn sách về phản ứng trao đổi chất, về hiệu quả và tầm quan trọng của việc duy trì quá trình trao đổi chất đối với bệnh nhân sau phẫu thuật.
Jonathan Rhoads, Stanley Dudrick là những người tiên phong nghiên cứu các vấn đề về dinh dưỡng đối với các bệnh nhân phẫu thuật, đưa ra khái niệm tổng thể về phương pháp nuôi dưỡng ngoài đường tiêu hóa.
Năm 1940, Charles Huggins đã có những nghiên cứu về vai trò của các tuyến nội tiết trong bệnh học cũng như ảnh hưởng của nó đối với các bệnh ung thư. Ông đã đoạt giải Nobel y học năm 1966 nhờ công trình nghiên cứu về vai trò của các thuốc kháng androgen, estrogen, phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn đối với việc ngăn chặn sự phát triển của ung thư tiền liệt tuyến.
Năm 1921, Alexander Fleming đó mô tả và tách chiết thành công loại men phân giải. Năm 1928, Fleming nhận thấy có một loại nấm mốc (penicillin) ở không khí trong phòng thí nghiệm có khả năng ngăn cản sự phát triển của vi khuẩn. Từ khi Fleming phát hiện ra nấm penicillin, mãi tới năm 1935, Gerhard Domagk mới trưng bày loại nấm này cùng với các chất diệt khuẩn khác và tới tận năm 1940 thì ngành Dược phẩm Mỹ mới chế tạo thành công thuốc penicillin và đưa vào thị trường sử dụng như là một sản phẩm thương mại.
Sự kiện Rontgen tình cờ phát hiện ra tia X vào năm 1895 là một phát minh quan trọng, có một ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của y học. Walter B. Cannon (1901) đã sử dụng tia X để nghiên cứu về quá trình hấp thụ thức ăn.

 MỘT SỐ PHẪU THUẬT KHÁC.

+ Phẫu thuật lạnh được dựa trên nguyên lý sử dụng nhiệt độ lạnh để điều trị bệnh. Những tổn thương do lạnh cóng gây nên đã được đề cập tới trong y văn từ thời cổ đại. Bác sĩ người Anh James Arnott đã sử dụng không khí hóa lỏng để tạo nhiệt độ lạnh làm phương tiện chữa bệnh từ năm 1951. Sau đó có nhiều tác giả đã sử dụng tuyết cacbonic, peroxyt nitơ để tạo nhiệt độ lạnh làm phương tiện chữa trị một số bệnh ngoài da.
Cooper và Lee đã sử dụng nitơ lỏng ở nhiệt độ 190ºC đến 195ºC để cắt bỏ u tuyến yên và một số loại u khác ở vùng nền sọ vào năm 1969. Phẫu thuật lạnh đã được sử dụng để điều trị trĩ. Từ năm 1969 để điều trị chứng viêm xơ teo amidan mãn tính và một số bệnh ngoài da, các tổn thương lành tính của cổ tử cung
Từ năm 1975, Kelman đã áp dụng phẫu thuât lạnh vào điều trị một số bệnh lý về mắt như bong võng mạc, lấy thể thủy tinh và mổ điều trị bệnh đục thủy tinh thể từ năm 1963.
Trong thời gian gần đây, phẫu thuât lạnh còn được sử dụng trong thực hành lâm sàng để cắt bỏ khối ung thư lưỡi, u môi, u gan, u tụy, để áp vào vùng xung quanh của khối ung thư sau khi đã cắt bỏ nhằm loại bỏ và tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại.
+ Năm 1960, Laser đã phát minh ra loại tia mang tên ông (tia Laser). Phát minh này đã làm tiền đề cho phẫu thuật Laser phát triển nhanh vào những năm sau đó.
Ngày nay, người ta đã chế được những loại dao mổ Laser CO2 cho phép làm đông được các mạch máu trên đường rạch nên có khả năng giảm được tối đa lượng máu mất và thời gian phẫu thuật. Dao Laser được sử dụng khá rộng rãi trong các phẫu thuật cắt gan, tụy, phổi, thực quản, dạ dày, ruột… Người ta còn có thể sử dụng xung Laser đưa qua ống nội soi để điều trị các biến chứng chảy máu do loét dạ dày- tá tràng và để phá các viên sỏi có kích thước dưới 1,5 cm ở niệu quản , bàng quang… Dao mổ Laser còn được sử dụng khá rộng rãi trong các phẫu thuật phụ khoa, phẫu thuật thần kinh, cắt bỏ các khối u ở da, cắt bỏ các hoại tử bỏng …
+ Phẫu thuật ngoài cơ thể trong thời gian gần đây khá phát triển nhờ những loại máy móc được phát minh cho phép phá được các sỏi thận ( máy phá sỏi, 1984)
+ Các phẫu thuật làm nghẽn hoặc gây tắc mạch bao gồm : những can thiệp phẫu thuật không chảy máu nhờ sự trợ giúp của các máy X quang có màn hình quang tăng sáng, phẫu thuật viên có thể luồn các ống thông nhỏ vào các mạch máu và gây bít tắc hoặc nghẽn các mạch máu .

Coppy ghi nguồn : daihocduochanoi.com

Link bài viết tại   : https://daihocduochanoi.com/dien-phan-can-bang-dich-the-dinh-duong-hoa-tri-lieu-phau-thuat-noi-tiet-va-x-quang-mot-so-phau-thuat-khac/ 

SHARE

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here