TẾ BÀO VÀ MÔ HỌC TRONG BỆNH GAN

0
356
CÁC MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG GAN
TẾ BÀO VÀ MÔ HỌC TRONG BỆNH GAN
Rate this post

TẾ BÀO VÀ MÔ HỌC

CÁC MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG GAN

Thông mật

Để phát hiện ký sinh trùng như trứng hoặc ấu trùng giun đũa, sán lá gan trong mật A, B, và c hoặc cấy dịch mật tìm vi trùng, hiện nay phát triển các kỹ thuật tìm kháng nguyên và kháng thể bằng miễn dịch huỳnh quang, ELISA và kháng thể đơn dòng nên ít được thực hiện.

Sinh thiết gan

Dùng để chẩn đoán các tổn thương gan sau:

  • – Bệnh gan mạn: gan nhiễm mỡ, viêm gan rượu, xơ gan;
  • – Các bệnh gan do ứ đọng: bệnh huyết thiết tố, bệnh Wilson;
  • – u gan nhất là ung thư gan;
  • – Gan lớn không rõ nguyên nhân;
  • – Ứ mật không rõ nguyên nhân.

1. Sinh thiết qua da

Chống chỉ định khi tỉ prothrombin <50% hoặc tiểu cầu dưới 50.000/mm3, nhiễm khuẩn đường mật nặng, báng nhiều, tắt mật quá nặng, nang sán lá gan.

Thường sử dụng kim Menghini, sinh thiết ở đường nách giữa khoảng gian sườn 8 – 9 ở tư thế bệnh nhân thở ra hết và nín thở. Sau khi sinh thiết xong, cho bệnh nhân nằm tại giường theo dõi trong vòng 6-8 giờ. Biến chứng nói chung thấp 0,3%, tỉ lệ tử vong 0,015%; nặng nhất là xuất huyết trong ổ bụng. Ngoài ra còn dùng kim Trucut với nòng trong có khoét dùng để cắt, hoặc sinh thiết tự động bằng Biopty gun còn gọi là Biopter.

2. Sinh thiết qua đường tĩnh mạch cổ

Được xem là sinh thiết kín, nên có thể thực hiện khi tỉ prothrombin xuống gần 30%. Thực hiện bằng cách chọc kim vào tĩnh mạch cổ rồi đưa catheter xuống tận gan qua đường tĩnh mạch trên gan rồi đưa kèm ra sinh thiết.

3. Sinh thiết dưới sự hướng dẫn của siêu âm

Được thực hiện khi tổn thương khu trú các chống chỉ định tương tự như sinh thiết qua da.

Chọc hút tế bào học bằng kim nhỏ

Thường được thực hiện dưới sự hướng dẫn của siêu âm, hoặc CT scanner, thủ thuật này ngày càng phổ biến do việc thực hiện khá đơn giản, cho kết quả nhanh, ít tai biến. Được chỉ định trong các bệnh gan toàn thể và khu trú như: Viêm gan, ung thư gan, u gan chưa rõ bản chất…

 Lợi ích của sinh thiết gan

1. Chẩn đoán

– Hủy tế bào gan: Trong hủy tế bào gan cấp sinh thiết gan ít giá trị, nó chỉ dùng khi chẩn đoán không chắc chắn, ngược lại trong hủy tế bào gan mạn là một yếu tố cần thiết để chẩn đoán, nó cho phép xác định thương tổn như viêm gan rượu, viêm gan mạn siêu vi, hội chứng Budd Chiari, bệnh nghẽn tĩnh mạch, gan nhiễm mỡ, thiếu alpha-1-antitrypsin.
– ứ mật: Trong ứ mật do tắt nghẽn sinh thiết gan không có giá trị mà còn nguy hiểm, ngược lại trong ứ mật mạn tính nó cho phép chẩn đoán bệnh quá tải, các loại viêm đường mật và bệnh mô hạt, nhiễm
khuẩn hay bệnh hệ thống.
– Suy tế bào gan: Thường được thực hiện qua đường tĩnh mạch cổ và có giá trị trong chẩn đoán bệnh tắc tĩnh mạch, đợt cấp viêm gan mạn, gan nhiễm mỡ cấp.
– u gan: Chọc sinh thiết dưới hướng dẫn của siêu âm là một xét nghiệm chính trong chẩn đoán u gan. cần thực hiện sớm trong những u gan giảm hay đồng âm.
– Bệnh hộ thống có chức năng gan bình thường: nhất là bệnh viêm hệ thống hoặc sốt mà chức năng gan bình thường.

2. Tiên lượng

– Trong bệnh gan đã rõ: nó cho biết cấu trúc của bệnh, như chỉ số xỡ gan, hoạt tính viêm, mức độ nhiễm sắt và nhiễm mỡ.
– Trong bệnh gan chưa rõ nguyên nhân: nó giúp phát hiện thêm một số nguyên nhân như bệnh huyết thiết tố di truyền, nhiễm độc rượu mạn để giúp ngăn ngừa.

3. Khoa học

– Trong thử nghiệm điều trị có kiểm soát: để giúp đánh giá điều trị như thuốc kháng siêu vi.
– Trong tử vong do bệnh gan chưa rõ nguyên nhân như trong bệnh nhiễm huyết thiết tố, thiếu alpha 1 antitrypsin, bệnh Wilson.

  • Những hạn chế
    • Kỹ thuật
  • Mầu cắt phải đù lớn ít nhất là 0,5cm và ít nhất chứa bốn khoảng cửa. Thường thì cắt qua đường tĩnh mạch cổ nhỏ hơn qua da.
  • Cố định: Với bệnh phẩm làm mô học càn cố định ngay không làm tổn thương cho bệnh phẩm trong dung dịch cố định như formaldehyt trung tính 10%.
  • Với bệnh phẩm làm tế bào cần dàn ngay cố định thực hiện bằng không khí hay bằng alcool éther ít nhất 30 phút.
    • Bệnh lý
  • Một số tổn thương gan lớn lan tỏa toàn bộ gan, khó mà xác định trên mảnh cắt, cho dù nó đủ lớn như trong xơ gan nốt lớn và phì đại nốt thoái hóa.
  • Một số bệnh gan tổn thương toàn gan, nhưng về phương diện vi thể lại phân bố theo kiểu từng đoạn và ổ như xơ gan mật nguyên phát; do đó cần thực hiện sinh thiết hàng loạt mới xác định được bệnh.
  • Các tổn thương lớn khu trú có thể thực hiện dưới siêu âm nhưng mảnh cắt thường nhỏ…

copy ghi nguồn : daihocduochanoi.com

Link bài viết tại : Tế bào và môt học trong bệnh gan

SHARE
danh mục thuốc thiết yếu năm 2017 xem thông tin chi tiết

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here