Hấp thu thuốc qua đường tiêu hóa

0
550
khái niệm về tác dụng của thuốc

 Các đường đưa thuốc vào cơ thể và sự hấp thu thuốc

Tùy theo mục đích điều trị, trạng thái bệnh lý và dạng bào chế của thuốc, người ta lựa chọn đường đưa thuốc vào cơ thể cho phù hợp để đạt hiệu quả điều trị cao. Có nhiều đường đưa thuốc vào cơ thể nhưng có thể xếp vào hai loại đường chính là đường tiêu hóa và ngoài đường tiêu hóa.
Đường tiêu hóa tính từ niêm mạc miệng đến hậu môn. Trừ loại thuốc đặt dưới lưỡi và thuốc dùng qua đường trực tràng, còn lại thuốc dùng đường uống sẽ trải qua từ đầu đến cuối ống tiêu hóa và sẽ được hấp thu với mức độ khác nhau ở các phần khác nhau của ống tiêu hóa.
Các đường khác đưa thuốc vào cơ thể như tiêm, khí dung (aerosol) v.v… cũng có những đặc điểm hấp thu rất khác nhau.

hấp thu thuốc qua đường tiêu hóa

Hấp thu qua niêm mạc miệng

Khi uống thuốc chỉ lưu lại ở khoang miệng một thời gian rất ngắn (2- 10 giây) rồi chuyển nhanh xuốhg dạ dày nên hầu như không có sự hấp thu ở đây. Tuy nhiên nếu dùng thuốc dưói dạng viên ngậm hoặc đặt dưối lưỡi thì một số thuốc ưa lipid (ĩipophilic) khổng bị ion hóá sẽ nhanh chóng được hấp thu theo cơ chế khuếch tán đơn thuần. Niêm mạc miệng đặc biệt là vùng dưối lưỡi có hệ mao mạch phong phú nằm ngay lỏp dưới màng đáy của tế bào biểu mô nên thuốc được hấp thu nhanh, vào thẳng vòng tuần hoàn chung không qua gan, tránh được nguy cơ bị phá huỷ bởi dịch tiêu hoá và chuyển hoá bước một ở gan. Trong thực tế lâm sàng người ta đặt dưới lưõi một sô” thuốc chông cơn đau thắt ngực như nitroglycerin, isosorbid dinitrat, nifedipin (Ạdalat), thuốc chống co thắt phế quản như isoprenalin, một sô hormon v.v…
Các thuốc dùng qua niêm mạc miệng cần phải tan trong nước, không gây kích ứng niêm mạc và không có mùi khổ chịu.

Hấp thu qua niêm mạc dạ dày

Sau khi uống, thuốc từ khoang miệng đi nhanh qua thực quản (khoảng 10 giây đối với chất rắn, 1- 2 giây đối với chất lỏng) rồi chuyển xuống dạ dày. Niêm mạc dạ dày chủ yếu là niêm mạc tiết, không có nhung mao, khe hở giữa các tế bào biểu mô rất hẹp. Mặt khác ở dạ dày hệ thống mao mạch ít hơn nhiều so với ruột non; pH dịch dạ dày lại rất thấp (1- 3) nên nói chung chỉ những thuốc có bản chất là acid vếu (thuốc ngủ barbituric, các salicylat v.v…), một số thuốc có hệ số phân bố lipid/ nước cao mới được hấp thu qua niêm mạc dạ dày.

Hấp thu qua niêm mạc ruột non

Niêm mạc ruột non là nơi hấp thu tốt nhất trong số các niêm mạc đường tiêu hóa và hầu hết các thuốc được hấp thu ở đây vì có một số đặc điểm sau:
– Diện tích tiếp xúc lớn. Ruột non bao gồm tá tràng, hỗng tràng và hồi
tràng. Trên niêm mạc ruột non bắt đầu từ hỗng tràng kéo dài xuống cách
hồi tràng 60-70cm có những van ngang hình liềm. Trên niêm mạc và trên
những van ngang này có rất nhiều nhung mao (mỗi mm2 niêm mạc có khoảng 20- 40 nhung mao). Tổng diện tích tiếp xúc của các nhung mao vào khoảng 40- 50 m2. Bờ tự do của các tế bào biểu mô của nhung mao lại chia thành các vi nhung mao nên diện tích hấp thu của niêm mạc ruột non được tăng lên rất nhiều.
– Hệ thống mao mạch phong phú tạo điều kiện cho việc hấp thu. Nằm ngay dưối lớp màng đáy của tế bào biểu mô của nhung mao là hệ thống dày đặc các mao mạch vối lưu lượng máu cao (khoảng 0.9 lít/ phút).
– Giải pH từ acid nhẹ đến kiềm nhẹ thích hợp cho việc hấp thu các nhóm thuốc có tính kiềm hoặc acid khác nhau.
Ở tá tràng môi trường acid nhẹ (pH = 5-6) nên một số thuốc có bản chất là acid yếu tiếp tục được hấp thu như Penicillin, griseofulvin v.v… Ngoài ra một sô” chất khác cũng được hấp thu ở đây như các acid amin, chất điện giải, muối sắt v.v…Tuy nhiên mức độ hấp thu ở tá tràng không lớn vì chiều dài của tá tràng ngắn, thòi gian thuốc đi qua nhanh (chỉ vào khoảng 2- 10 giây).
Dịch hỗng tràng có pH = 6 – 7, thời gian thuổíc lưu lại hồng tràng tương đối lâu (2- 2,5 giờ), diện tiếp xúc lớn. Ngoài ra, đối vối những thuốc ở dạng viên bao đặc biệt là viên bao tan trong ruột sẽ tạo nồng độ cao ở ruột nên hầu hết các thuốc kể cả acid yếu và base yếu đều được hấp thu tốt qua niêm mạc hỗng tràng như amphetamin, ephedrin, atropin, các Sulfonamid, các sàlicylat, benzoat, các barbiturat v.v… Tuy nhiên, những chất có tính acid mạnh hoặc base mạnh, những chất có điện tích lớn và phân ly mạnh như cát dẫn chất amonium bậc 4, Streptomycin v.v… ít được hấp thu.
Môi trưòng dịch hồi tràng kiểm nhẹ vối pH = 7 – 8, và thuốc lưu lại cũng khá lâu (3 – 6 giờ) nên những phần thuốc còn lại sau khi qua hỗng tràng phần lốn được hấp thu ỏ đây. Nhưng vì nồng độ thuốc ở hỗng tràng đã giảm nhiều nên thuốc được hấp thu theo cơ chế vận chuyển tích cực hoặc theo cơ chế ẩm bào (pinocytosis).
– Có các dịch tiêu hoá như dịch tụy (chứa các enzym amylase, lipase, esterase, Chymotrypsin v.v…), dịch ruột (chứa natri hydrocarbonat, mucin, lipase, invertin v.v…), đặc biệt là dịch mật trong đó có các acid mật, muối mật eó tác dụng nhũ tương hoá các chất tăn trong iipid, tăng khả năng hấp thu các vitamin tan trong dầu như Vitamin A, Vitamin D, Vitamin E, Vitamin K.
– ở niêm mạc ruột non có nhiều các chất mang (carrier) nên ngoài cơ chế khuêch tán đơn thuần, ẩm bào, thực bào, ở đây quá trình hấp thu thuốc còn được thực hiện theo cơ chế khuếch tán thuận lợi và vận chuyển tích cực.; Như vậy hầu hết các thuốc tuỳ theo tính chất chúng có thể được hấp  thu qua niêm mạc ruột non theo những cơ chế khác nhau.

Hấp thu qua niêm mac ruột già

Sự hấp thu thuốc của niêm mạc ruột già kém hơn nhiều-so vói niêm mạc ruột non vì diện tiếp xúc nhỏ hơn (chiều dài ruột già ngắn hơn nhiều so với ruột non, trên niêm mạc lại không có các nhung mao và vi nhung mao), ít các enzym tiêu hoá. Chức năng chủ yếu của niêm mạc ruột già là hấp thu nưóc, Na+, Cl”, K+ và một số chất khoáng. Ngoài ra một số chất tan trong lipid cũng được hấp thu ở đây.
Đặc biệt rửa ruột già(trực tràng có khả năng hấp thu thuốc tốt. hơn vì có hệ tĩnh mạch phong phú. Tĩnh mạch trực tràng dưới và tĩnh mạch trực tràng giữa (nằm ở 2/ 3 dưới của trực tràng) đổ máu về tĩnh mạch chủ dưới rồi về tim không qua gan. Tĩnh mạch trực tràng trên đổ máu về tĩnh mạch cửa, qua gan. Như vậy khi dùng qua đường trực tràng tuỳ theo thuốc nằm ở phần nào của trực tràng mà nó có thể vào thẳng tĩnh mạch chủ dưới không qua gan hoặc phải qua gan (bị chuyển hoá bước một ở gan).
Dùng thuốc qua đường trực tràng ngoài mục đích tác dụng tại chỗ (điều trị táo bón, trĩ, viêm trực tràng kết v.v…) còn dùng để có được tác dụng toàn thân như thuốc ngủ, thuốc an thần, thuổc hạ sốt,- giảm đau VrV.T. Gần lưu- ý ử trực tràng do chứa lượng dịch ít, nồng độ thuốc đậm đặc nên thuốc được hấp thu nhanh với lượng đáng kể do đó trong một số trường hợp tác dụng mạnh hơn đường uống. Vấn đề này càng phải chú ý đối với trẻ em và người già.
Dạng thuốc dùng qua đường trực tràng là thuốc đạn hoặc thuốc thụt. Người ta dùng đường trực tràng trong những trường hợp không uống được (hôn mê, tắc ruột, co thắt thực quản v.v…) hoặc thuốc có mùi vị khó chịu.

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY