BIẾN CHỨNG CỦA LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG

0
1077
Loét dạ dày tá tràng
BIẾN CHỨNG CỦA LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG
Rate this post

Loét dạ dày tá tràng

Biến chứng của loét dạ dày tá tràng thường gặp là chảy máu, thủng, xơ teo gây hẹp, thủng bít hay tự do, loét sâu kèm viêm quanh tạng, đặc biệt loét dạ dày lâu ngày có thể ung thư hóa.

1. Chảy máu

Thường gặp nhất nhưng khó đánh giá tần số chính xác. Khoảng 15 – 20% bệnh nhân loét có một hoặc nhiều lần chảy máu; loét tá tràng thường chảy máu (17%) so với dạ dày (12%), người già chảy máu nhiều hơn người trẻ. Biến chứng chảy máu thường xảy ra trong đợt loét tiến triển nhưng cũng có thể là dấu hiệu đầu tiên. Thường là chảy máu ẩn nếu kéo dài gây thiếu máu mạn. Nếu chảy máu nặng cấp gây nôn và đi cầu ra máu, chảy máu dạ dày thường nôn nhiều hơn (50%) tá tràng 30%. Đánh giá độ trầm trọng chảy máu cần dựa vào mạch, huyết áp, lượng nước tiểu, tình trạng thiếu máu não, hồng cầu, Hct, Hb và lượng máu cần bù để duy trì các chỉ số bình thường của huyết động.
– Chẩn đoán dựa vào nội soi cần thực hiện sớm khi ra khỏi choáng. Tần suất tái phát là 20%, tiên lượng tốt nếu chảy máu tự ngưng trong vòng 6 giờ đầu. Nguy cơ tái phát cao > 50% nếu:
+ Chảy máu từ tiểu động mạch;
+ Mạch máu thấy được ở nền ổ loét;
+ Chảy máu kéo dài > 72 giờ.
– Điều trị: Trong chảy máu có choáng hoặc hồng cầu < 2,5 triệu, Hct < 25% bệnh nhân phải được điều trị tích cực bằng truyền máu, truyền dịch để cân bằng huyết động, thường duy trì huyết áp tâm thu chung quanh 10mmHg. Đồng thời cho kháng tiết bằng đường tiêm, các thuốc băng niêm mạc ít hiệu quả khi chảy máu từ tiểu động mạch. Các phương tiện cầm máu vật lý có thể hiệu quả, khi chảy máu từ mao mạch như: rửa dạ dày bằng nước lạnh nước ấm hoặc nước muối đẳng trương. Nhiệt đông và quang đông tại chỗ cũng rất có hiệu quả. Thuốc cầm máu bằng co mạch tại chỗ bằng adrenalin nhất là phối hợp tiêm adrenalin và thuốc làm xơ hóa mạch máu như polidoquinon rất có hiệu quả. Biện pháp làm bít mạch bằng spongel khó thực hiện. Nếu các biện pháp trên không có hiệu quả thì cần phẫu thuật để buột cầm máu đồng thời có thể kết hợp cắt bỏ ổ loét.

2. Thủng

Loét ăn sâu vào thành dạ dày hay tá tràng có thể gây thủng. Đây là biến chứng đứng thứ nhì sau chảy máu (6%), đàn ông nhiều hơn phụ nữ. Loét mặt trước hoặc bờ cong nhỏ thì thủng vào xoang phúc mạc lớn, loét mặt sau thì thủng vào cơ quan kế cận hoặc hậu cung mạc nối.
– Triệu chứng: thường khởi đầu bằng cơn đau dữ dội kiểu dao đâm (coup de poignard) sau đó là dấu viêm phúc mạc và nhiễm trùng nhiễm độc. Chụp phim bụng không sửa soạn hoặc siêu âm có liềm hơi dưới cơ hoành.
Điều trị cấp cứu bao gồm hút dịch vị, truyền dịch, kháng sinh. Trong phần lớn trường hợp cần mổ khâu lỗ thủng.

3. Loét xuyên thấu dính vào cơ quan kế cận

Thường là tụy, mạc nối nhỏ, đường mật, gan, mạc nối lớn, mạc treo đại tràng, đại tràng ngang thường gặp lá loét mặt sau hoặc loét bờ cong lớn. Các loét này thường đau dữ dội ít đáp ứng với điều trị, loét xuyên vào tụy thường đau ra sau lưng hoặc biểu hiện viêm tụy cấp, loét thủng vào đường mật chụp đường mật hoặc siêu âm có hơi trong đường mật hoặc baryte vào đường mật. Nếu rò dạ dày đại tràng gây đi chảy phân sống và kém hấp thu, cần điều trị phẫu thuật.

4. Hẹp môn vị

Thường gặp nhất khi ổ loét nằm gần môn vị. Gây ra do loét dạ dày hoặc tá tràng hoặc phản ứng co thắt môn vị trong loét dạ dày nằm gần môn vị, hẹp có thể do viêm phù nề môn vị.

4.1. Triệu chứng

– Nặng bụng sau ăn.
– Mửa ra thức ăn cũ > 24 giờ.
– Dấu óc ách dày lúc đói và dấu Bouveret (+).
– Gầy và dấu mất nước.

4.2. Xét nghiệm

– Cô máu và suy thận chức năng.
– Nhiễm kiềm do mất acid chlorhydrie.
– Kali máu giảm do mất HCl.

4.3. Chẩn đoán hẹp môn vị

Gồm 3 giai đoạn như phát hiện sự ứ trệ của dạ dày, xác định nguồn gốc, đánh giá cơ năng và thực thể.
– Phát hiện sự ứ trệ dạ dày:
+ Thông dạ dày có dịch ứ >100ml;
+ Phim baryte dạ dày còn tồn đọng baryte > 6 giờ;
+ Phim nhấp nháy, chậm làm vơi dạ dày > 6 giờ khi thức ăn có đánh dấu đồng vị phóng xạ Technium
– Xác định nguồn gốc bằng chụp XQ và nội soi sau khi đã hút hết dịch vị, kèm sinh thiết vùng tổn thương.
– Xác định cơ năng hay thực thể bằng nghiệm pháp no muối kéo dài, sau 1/2 giờ và 4 giờ: Nếu sau 1/2 giờ > 400ml, và sau 4 giờ >300ml là thực thể, nếu < 200ml là có cơ năng, hoặc làm lại no muối sau 3 ngày truyền dịch >100ml là thực thể.

4.4. Điều trị

Điều chỉnh nước và điện giải, cần dựa vào điện giải đồ để bù natri và Kali. Nuôi dưỡng bằng đường TM, trong những ngày đầu cần hút dạ dày để tái lập trương lực cơ và giảm kích thích niêm mạc, đồng thời cho them Métoclopramide, hoặc Domperidol để dễ làm với dạ dày. Nếu hẹp do loét, điều trị loét. Nếu sau một thời gian điều trị mà hẹp không giảm.

5. Loét ung thư hóa

Tỉ lệ loét ung thư hóa thấp 5 – 10% và thời gian loét kéo dài >10 năm. Hiện nay người ta thấy rằng viêm mạn hang vị nhất là thể teo, thường đưa đến ung thư hóa nhiều hơn (30%), còn loét tá tràng rất hiếm khi bị ung thư hóa.

Copy ghi nguồn : daihocduochanoi.com

Link bài viết tại : biến chứng của loét dạ dày tá tràng

SHARE

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here